Thông tư 134 của Bộ Tài Chính về thuế thu nhập doanh nghiệp và những điểm chú ý

Ngày 23/11/2007, Bộ Tài Chính (BTC) ban hành Thông tư (TT) 134/2007/TT-BTC hướng dẫn thi hành nghị định số 24/2007/NĐ-CP ngày 14-2-2007 quy định chi tiết về thi hành luật thuế thu nhập doanh nghiệp (TTNDN). TT này có hiệu lực sau 15 ngày kể từ ngày đăng công báo và áp dụng cho kỳ tính thuế từ năm 2007 trở đi; thay thế các TT số 128/2003/TT-BTC ngày 22/12/2003 và 88/2004/TT-BTC ngày 1/9/2004 của BTC. Theo đó, TT có một số điểm đáng lưu ý sau:

 

Các đối tượng không thuộc diện nộp thuế thu nhập doanh nghiệp không bao gồm hộ gia đình và cá nhân nông dân sản xuất hàng hoá lớn, có thu nhập cao từ các sản phẩm trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản. Tuy nhiên TT chưa có quy định thế nào là thu nhập cao để phân biệt đối tượng nộp thuế và tạm thời chưa thực hiện thu đối với đối tượng này.

 

Nguyên tắc chung của việc xác định một khoản chi không phải là chi phí hợp lý là: (1) không có đủ hóa đơn, chứng từ theo quy định hoặc có nhưng không hợp lệ; (2) các khoản chi không liên quan đến việc tạo ra doanh thu, thu nhập chịu thuế trong kỳ tính thuế; (3) các khoản chi do nguồn kinh phí khác đài thọ.

 

Lưu ý các khoản sau không được coi là chi phí hợp lý theo các tiêu chí này:

  • Các khoản tiền thưởng cho người lao động không mang tính chất tiền lương, không được ghi trong hợp đồng lao động hoặc thoả ước lao động tập thể.
  • Các khoản chi cho cán bộ nhân viên, thưởng sáng kiến nếu vượt quá quy định hiện hành.
  • Phần chi phụ cấp cho nguời lao động đi công tác (không bao gồm tiền đi lại và tiền ở) vượt quá 2 lần mức quy định theo hướng dẫn của Bộ Tài chính đối với cán bộ công chức, viên chức Nhà nước
  • Phần chi trang phục bằng tiền cho người lao động vượt quá 1.000.000 đồng/năm.
  • Chi cho bồi thường, trợ cấp cho tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp nếu quá mức quy định.
  • Chi phí mua bảo hiểm nhân thọ cho người lao động cũng không được coi là chi phí hợp lý.
  • Chi báo biếu, báo tặng của các cơ quan báo chí  và các loại chi phí khác phần vượt quá 10% tổng số các khoản chi phí hợp lý.
  • Chi phí quảng cáo, khuyến mại, chi phí giao dịch, đối ngoại (trừ các loại được liệt kê kèm theo); chi tiếp tân, khánh tiết, chi hoa hồng môi giới, chi phí hội nghị; chi phí hỗ trợ tiếp thị, chi hỗ trợ chi phí, chi phí chiết khấu thanh toán (kể cả  chi bằng tiền cho đại lý và người mua hàng hoá, dịch vụ với khối lượng lớn)

Các trường hợp có hạn mức trên, mức quy định đều được đưa ra bởi các cơ quan chức năng và các doanh nghiệp buộc phải tuân thủ. Tuy nhiên, trong trường hợp chi phí cho sản xuất kinh doanh trong hầu hết các trường hợp là do doanh nghiệp tự xây dựng từ đầu năm hoặc đầu kỳ sản xuất. Nếu doanh nghiệp không tự xây dựng thì lấy mức của cơ sở cùng kinh doanh ngành nghề lĩnh vực và quy mô tương tự.

 

Khi tính các khoản thu nhập chịu thuế khác, có một điểm đáng chú ý là phương pháp tính thuế đối với thu nhập của doanh nghiệp thu được từ hoạt động kinh doanh ở nước ngoài. Trong trường hợp này, TT có quy định rõ tất cả các thu nhập mà doanh nghiệp đầu tư ra nước ngoài thu được từ hoạt động kinh doanh ở nước đó đều phải nộp thuế dù cho doanh nghiệp có được hưởng ưu đãi về thuế tại nước doanh nghiệp đầu tư. Mức thuế suất cũng dùng chung như cho các trường hợp khác là 28%, không áp dụng mức thuế suất ưu đãi (nếu có) mà doanh nghiệp Việt Nam đầu tư ra nước ngoài đang được hưởng theo Luật thuế thu nhập doanh nghiệp hiện hành.

 

Biểu thuế suất của TTNDN là 28%. Riêng với cơ sở kinh doanh tiến hành tìm kiếm, thăm dò, khai thác dầu khí và tài nguyên quý hiếm khác, mức thuế suất dao động từ  28% đến 50% phù hợp với từng dự án đầu tư, từng cơ sở kinh doanh.

Hỗ Trợ Trực Tuyến

Thời gian làm việc

Bất cứ khi nào bạn cần, hỗ trợ 24/7, 7 ngày trong tuần

Đối tác và khách hàng của chúng tôi

image
image
image
image
image
image
image
image
image